Bơm ebara cdxm 90 10

Đầu những năm bảy mươi các nước có nền công nghiệp dầu khí phát triển, có nhiều giàn khoan nổi hoạt động, đã bắt đầu biên soạn điểu luật và tìm mọi cách đưa các điểu luật mang tính pháp lý vào thực thi. Trong giai đoạn này tồn tại hai khuynh hướng khác nhau lúc biên soạn điều luật. Theo cách đề xuất của người Mỹ, ba loại phương tiện khoan nổi kể trên gồm giàn jack-up, semi-submersible được xác định đủ tiêu chuẩn để công nhận là “tàu nổi” theo luật pháp Hoa kỳ. Sau bước đó, Cục Bảovệ bờ biên của Mỹ rà soát lại những qui định, tiêu chuẩn hiện dùng cho tàu hàng của Mỹ và cải tạo để áp dụng cho các giàn khoan nổi. Theo cách gọi của người Mỹ các giàn này được xếp vào các “giàn khoan di động” ( mobile drilling units). Họ hàng giàn khoan do tiểu ban tàu thương mại trong Cục Bảo vệ Bờ biên quản lý kỹ thuật. Thời điểm này người Mỹ mới đưa ra tiêu chuẩn cho ổn định nguyên vẹn. Phải chờ thời gian lâu vể sau ổn định sự cố của giàn khoan mới nhập cuộc.

Ebara evmu

Trong những điều luật đầu tiên người Mỹ đã yêu cầu phân khoang chống chìm cho giàn nhằm giảm sự tấn công ồ ạt của nước tràn vào tàu khi bị sự cố, tránh cho nước tràn ngập lối thoát hiểm, lối vào khoang bơm vv… Điểu luật thời bấy giờ đã phân biệt các kiểu giàn như thể hiện trên hình.

Luật đóng giàn khoan do Cục Bảo vệ Bờ biển Mỹ đưa ra được tóm tắt như sau.

– Diện tích dưới đường momen phục hồi (Mph), trong phạm vi được định nghĩa rõ ràng, phải lớn hơn 1,4 lần diện tích tương ứng dưới đường momen nghiêng (Mng). Phạm vi tính toán là từ góc (p = 0 đến góc nhỏ hơn trong hai góc sau: góc nước tràn ((pf) và góc gặp nhau lần thứ hai giữa đường momen phục hồi với momen nghiêng (ký hiệu II tại đồ thị). Khái niệm các góc này được giải thích trong phần ổn định tĩnh.

Ebara jexm 120

Diện tích {A+B} > 1,4 Diện tích (B+C)

vận tốc gió, theo quan điểm người Mỹ phải là lOOHL/h khi tính toán.

Khuynh hướng thứ hai không nhìn nhận giàn khoan như một tàu thủy, mà coi nó như một thực thế nổi chịu tác động của môi trường như các công trình nổi vẫn chịu. Cách nhìn này thể hiện ở các nước châu Âu. Theo quan điểm người Anh, chỉ những giàn nổi, tự hành mới được coi là “tàu thủy”, còn giàn nổi nhưng khi di chuyên nhờ người khác kéo thì không. Tại những nước không coi giàn nổi là tàu thủy vẫn phải có điều luật nhằm đảm bảo ổn định cho phương tiện. Người Anh đua ra các yêu cầu về ổn định cho các giàn khoan nổi làm việc tại Biển Bắc và các vùng phụ cận vào nãm 1974, do Phòng công tác sản xuất dầu thuộc Bộ Năng lượng đề.

Cách làm của châu Âu thể hiện trong việc đưa ra các điểu luật ổn định giàn khoan nổi của nước sản xuất nhiểu giàn khoan là Na uy. Điều luật ban đầu sử dụng cho ngành này do Bộ Hàng hải đưa ra chứ chưa phải của Đăng kiểm.

Qụi phạm chẽ tạo giàn khoan nối

Ebara best one ms

Ngày nay việc khai thác dầu bằng các giàn khoan nổi không đóng khung trong một vài nơi. Những nước có nền công nghiệp đóng tàu phát triển đă kiêm luôn chê tạo giàn khoan biển. Thực tê đó đòi hỏi Đăng kiểm cho ra đời các qui phạm phân cấp và chê tạo giàn khoan.

Tóm tắt những yêu cầu về ổn định trong qui phạm

Qui phạm của ABS

Ebara evmg

Từ năm 1968 ABS đă soạn thảo qui phạm, để cập cả ổn định chưa sự cố và ổn định sau sự cố. ôn định chưa sự cố (ổn định nguyên vẹn) với nội dung trùng với đề xuất của Cục Bảo vệ Bờ biển, như đâ trình bày trên. Yêu cầu về ổn định sự cố thể hiện ở chồ, nêu một khoang bị đắm giàn vần còn khả năng chống trả momen nghiêng do gió thổi ngang, với vận tốc 50 HL/h

 



Sản phẩm liên quan

LIÊN HỆ